Luật Đ&C

Văn phòng luật sư Đà Nẵng

Trang chủ Dân sự Tư vấn về quyền góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp
Dân sự Tháng 1 1, 2018 6 phút đọc 1,669 lượt xem

Tư vấn về quyền góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp

Tư vấn về quyền góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp

Mục lục bài viết

    Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư 2014 thì việc góp vốn, mua cổ phần trong doanh nghiệp khác là một hoạt động kinh doanh, đầu tư và là quyền của doanh nghiệp. Vậy thì một doanh nghiệp thành lập theo Luật Doanh nghiệp chỉ có hoạt động chủ yếu là góp vốn, mua cổ phần trong các doanh nghiệp khác (mô hình holdings, không có dự án đầu tư, không có giấy phép đầu tư, kinh doanh tài chính) thì liệu có rủi ro pháp lý nào không và cách khắc phục ?

    Trả lời:

    Luật Doanh nghiệp 2014 có riêng một điều khoản là Điều 18 quy định về Quyền thành lập, góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp và quản lý doanh nghiệp:

    Điều 18. Quyền thành lập, góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp và quản lý doanh nghiệp

    Khoản 3:

    “3. Tổ chức, cá nhân có quyền góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh theo quy định của Luật này, trừ trường hợp sau đây:

    a) Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;

    b) Các đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức”

    Luật Đầu tư 2014 định nghĩa Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư.

    Khoản 1 Điều 5 Luật Đầu tư 2014 cũng ghi rõ Nhà đầu tư được quyền thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong các ngành, nghề mà Luật này không cấm.

    Như vậy, Luật doanh nghiệp và Luật Đầu tư đều quy định việc góp vốn, mua cổ phần trong doanh nghiệp khác là quyền, là hoạt động đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp, không phải là ngành nghề kinh doanh. Điều đó nghĩa là các doanh nghiệp với các lĩnh vực ngành nghề khác nhau được quyền đầu tư góp vốn, mua cổ phần tại các doanh nghiệp khác mà không bắt buộc phải đăng ký kinh doanh đối với lĩnh vực này.

    Tuy nhiên trong trường hợp một doanh nghiệp được thành lập để tiến hành các hoạt động đầu tư (góp vốn, mua cổ phần vào các doanh nghiệp khác), nghĩa là hoạt động đầu tư tài chính là lĩnh vực chính, chủ yếu của doanh nghiệp, thì để tránh rủi ro pháp lý, nhà đầu tư nên đăng ký thành lập Công ty đầu tư tài chính hoặc Quỹ đầu tư tài chính theo các quy định của Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn thi hành.

    http://luatminhtam.com/tu-van-dinh-gia-tai-san-de-gop-von-thanh-lap-doanh-nghiep

    Chia sẻ thông tin này

    Kiến thức pháp luật cho cộng đồng

    Miễn trừ trách nhiệm pháp lý

    Thông tin trong bài viết này được đội ngũ luật sư tại Luật Đ&C tổng hợp nhằm mục đích cung cấp kiến thức pháp luật phổ thông và mang tính chất tham khảo tại thời điểm đăng tải.

    Do hệ thống văn bản pháp luật thường xuyên thay đổi và mỗi vụ việc đều có những tình tiết đặc thù riêng, quý độc giả không nên tự ý áp dụng các nội dung trên nếu chưa có sự tư vấn chuyên sâu từ luật sư.

    Luật Đ&C không chịu trách nhiệm đối với bất kỳ thiệt hại hay tổn thất nào phát sinh từ việc sử dụng thông tin trong bài viết này khi chưa được chúng tôi xác nhận bằng văn bản tư vấn chính thức.

    Cần hỗ trợ ngay?

    Luật sư chuyên môn cao tại Đà Nẵng luôn sẵn sàng giải đáp thắc mắc của bạn.

    Gọi 0932 50 52 82 Tư vấn qua Zalo
    Zalo

    Đang gửi yêu cầu

    Vui lòng đợi trong giây lát, luật sư sẽ sớm phản hồi cho bạn.